Sau buổi yến tiệc ở cung đình, danh tiếng của ta vang xa khắp kinh thành. Người ta không còn gọi ta là “Đại tiểu thư bị Trạng nguyên ruồng bỏ” nữa, mà chuyển sang gọi là “Vương phi có khí chất thần tiên”.
Ta hài lòng lắm. Mỗi ngày ta đều nằm trong đình hóng mát, xem gánh hát diễn vở “Vợ hiền dạy chồng” (vở này ta đặc biệt yêu cầu viết thêm đoạn bà mẹ chồng bị nghiệp quật để giải khuây). Cuộc sống đang yên ổn, thì đột nhiên Lâm thúc hớt hải chạy vào, tay cầm một ống tre phong kín bằng sáp:
– Vương phi! Tin mừng! Vương gia gởi thư và quà từ biên cương về cho người!
Ta đang nhai dở miếng hồng treo gió, nghe vậy suýt chút nữa thì nghẹn. Ta vỗ ngực bôm bốp, mặt nhăn nhó:
– Tin mừng cái gì mà tin mừng? Ông ấy không lo đánh giặc đi, gởi thư về làm chi cho tốn tiền chuyển phát nhanh?
Nói thì nói thế, nhưng ta vẫn nhận lấy bức thư. Mở ra xem, bên trong chỉ vỏn vẹn đúng hai dòng chữ rồng bay phượng múa, nặc mùi sát khí:
“Nghe nói nàng múa kiếm vì nhớ ta đến phát điên. Ta cảm động lắm. Gởi cho nàng một món quà để giải khuây. Sống cho tốt, đừng để quà chết trước khi ta về.”
Ta: “???”
Múa kiếm vì nhớ đến phát điên? Tạ Chiêu, trí tưởng tượng của ngài có thể bay cao bay xa hơn được không? Ta múa dưỡng sinh để sống thọ mà, liên quan gì đến việc nhớ ngài? Tin đồn ở kinh thành đúng là đáng sợ, tam sao thất bản đến mức biến một bà già đang tận hưởng cuộc sống thành một thiếu nữ si tình.
– Quà đâu? – Ta uể oải hỏi Lâm thúc.
Lâm thúc chỉ tay ra phía cổng. Ở đó, bốn tên binh lính lực lưỡng đang khiêng một cái lồng sắt khổng lồ, bên trên phủ một lớp vải đen. Tiếng gầm gừ phát ra từ bên trong khiến mấy con chó cảnh trong phủ sợ đến mức cụp đuôi chạy mất dép.
Ta có dự cảm chẳng lành. Đừng bảo là lão gởi cho ta một con hổ nhé?
Khi lớp vải đen được kéo xuống, ta suýt chút nữa thì ngã ngửa khỏi ghế xích đu.
Đó là một con sói xám biên cương to vật vã, đôi mắt xanh lè nhìn ta như nhìn một miếng sườn non. Cái nết của Tạ Chiêu đúng là không lệch đi đâu được: Người ta gởi trang sức, lụa là; lão gởi… thú dữ.
– Vương gia nói, nuôi sói có thể rèn luyện lòng dũng cảm, rất hợp với bài kiếm của người. – Một tên lính dõng dạc báo cáo.
Ta nhìn con sói, con sói nhìn ta. Một già (linh hồn) một thú nhìn nhau đắm đuối.
– Lâm thúc. – Ta run rẩy gọi. – Dạ có thần thiếp… à nhầm, dạ có lão nô. – Mau… mau đi mua bảo hiểm cho toàn bộ người trong phủ. Còn nữa, bảo đầu bếp mỗi ngày chuẩn bị mười cân thịt tươi loại tốt nhất. Ta không muốn mình trở thành bữa phụ của cái “món quà” này đâu!
Tối hôm đó, ta nằm trong phòng, trằn trọc không ngủ được. Tiếng sói hú từ ngoài vườn vọng vào khiến ta cảm giác mình như đang ở giữa rừng hoang chứ không phải Vương phủ xa hoa.
Ta bắt đầu hối hận. Lẽ ra kiếp trước ta nên học thêm cách huấn luyện thú thay vì học cách thêu khăn cho Thẩm Viễn Chu.
Nhưng mà, bức thư của Tạ Chiêu khiến ta suy nghĩ. Lão già này tuy ở biên cương nhưng tai mắt ở kinh thành rất nhiều. Việc lão gởi sói về, một mặt là để “trêu chọc” ta, mặt khác chắc chắn là để cảnh cáo đám người đang nhăm nhe dòm ngó Vương phủ rằng: “Vợ ta có sói bảo vệ, đứa nào láo nháo là nó cạp!”
Sáng hôm sau, ta quyết định không thể để con sói này làm chủ cái phủ này được. Ta là ai chứ? Ta là người đã sống 80 năm! Ta lấy một chiếc đùi gà lớn, buộc vào đầu một cây sào dài, rồi đứng từ xa nhử con sói.
– Nào, bé cưng, gọi “Gâu gâu” đi rồi chị cho ăn.
Con sói nhìn ta với ánh mắt khinh bỉ tột độ. Nó quay ngoắt mông về phía ta, thản nhiên nằm ngủ.
Đúng lúc đó, Xuân Đào chạy vào báo: – Tiểu thư! Thẩm đại nhân và Nhị tiểu thư đến thăm người. Nói là nghe tin Vương gia gởi “kỳ trân dị thú” về nên muốn đến mở mang tầm mắt.
Ta nhếch môi cười. Đúng là “buồn ngủ gặp chiếu manh”. Con sói này đang làm ta đau đầu, thôi thì mượn tạm hai người kia làm mục tiêu huấn luyện vậy.
– Mời vào! Bảo họ ra thẳng vườn hoa phía sau nhé! Ta sẽ cho họ thấy “tình cảm thắm thiết” giữa ta và Vương gia qua món quà này.
Thẩm Viễn Chu và Thịnh Tuyết bước vào vườn, ăn mặc vô cùng chỉnh tề. Thịnh Tuyết vẫn giữ phong cách “hoa nhài trong gió”, còn Thẩm Viễn Chu thì nhìn ta với vẻ mặt “ta muốn nói chuyện riêng với nàng nhưng có vợ ta ở đây”.
– Tỷ tỷ, muội nghe nói Vương gia gởi tặng tỷ một con thú quý? – Thịnh Tuyết vừa nói vừa liếc nhìn cái lồng sắt.
Ta thong thả uống trà: – À, cũng không có gì to tát. Vương gia sợ ta ở nhà buồn, nên gởi một con “cún con” từ biên cương về bầu bạn thôi mà. Tuyết nhi, muội lại gần xem đi, nó ngoan lắm.
Thịnh Tuyết tò mò tiến lại gần cái lồng. Đúng lúc đó, ta kín đáo ném miếng thịt có tẩm chút bột tiêu vào phía chân muội ấy.
RẦM!
Con sói ngửi thấy mùi lạ, cộng thêm sự xuất hiện của người lạ, liền lồng lộn lên, va mạnh vào thanh sắt lồng, há cái miệng đầy răng sắc nhọn gầm lên một tiếng chấn động trời xanh.
– Á!!! – Thịnh Tuyết hét lên một tiếng kinh hoàng, ngã ngồi bệt xuống đất, mặt cắt không còn giọt máu.
Thẩm Viễn Chu vội vàng chạy lại đỡ, nhưng con sói lại hướng về phía hắn mà nhe răng. Hắn cũng hoảng hốt lùi lại mấy bước, suýt chút nữa thì ngã xuống hồ cá ta mới đào.
Ta giả vờ hốt hoảng, đứng dậy la lớn: – Ôi trời đất ơi! Bé cưng, sao em lại hung dữ với khách thế? Xin lỗi hai người nhé, chắc tại nó thấy Thẩm đại nhân và muội muội có “mùi lạ” nên nó không quen. Người ta nói sói biên cương chỉ nhận ra người có chính khí, ai mà tâm địa gian xảo là nó ghét lắm!
Thẩm Viễn Chu tím mặt, còn Thịnh Tuyết thì khóc thút thít, đòi về ngay lập tức.
Trước khi họ đi, ta còn bồi thêm một câu: – Viễn Chu huynh, huynh thấy đó, Vương gia nhà ta tuy đi xa nhưng luôn lo lắng cho ta từng chút một. Huynh cũng nên quan tâm Tuyết nhi nhiều vào, đừng để muội ấy cứ phải chạy sang đây “thăm” ta suốt như vậy, sói nhà ta nó… kén ăn lắm, không biết nó có chê thịt người không nữa.
Nhìn bóng lưng hai người chạy trối chết ra khỏi phủ, ta cười đến mức suýt rơi cả bộ răng (may mà răng kiếp này là răng thật).
Ta quay lại nhìn con sói, thấy nó cũng đang nhìn ta, cái đuôi khẽ vẫy một cái.
– Được rồi, từ nay tên em là “Tiểu Tạ”. Chúng ta cùng nhau canh giữ cái kho vàng này nhé!
